Ánh đèn cao áp chiếu thẳng vào dốc cổng sau, hắt bóng ông Kế cùng ba gã thanh niên đổ dài lên tường gạch. Tay cầm gậy gỗ của ông Kế run lên nhè nhẹ, nhưng khuôn mặt tía tai vì giận dữ lại hiện rõ một vẻ hoảng loạn không thể che giấu.
Bác Cần! Anh Phong! Hai người dừng tay lại ngay! — Ông Kế thét lên, giọng khàn đục rung lên trong đêm vắng. Ranh giới giữa chuyện dòng họ và pháp luật có chừng có mực thôi! Hai người tự ý cạy phá đồ vật vớt dưới sông lên thế này là xâm phạm tài sản tâm linh của làng!
Bác Cần giật mình lùi lại nửa bước, ánh mắt dao động nhìn ba gã thanh niên đang lẩn ra đằng sau khóa chặt lối ra cổng. Riêng Phong vẫn đứng bình thản bên mép hòm đá. Anh chậm rãi đưa tay nhấc chiếc rương da cá sấu lên. Dù đã qua gần một thế kỷ, nhờ lớp xỉ than chống ẩm và keo nhựa đường niêm phong kín kẽ, chiếc rương da vẫn giữ nguyên vẹn hình dáng, khóa đồng xám xịt nhưng không hề bị mục hỏng.
Bác Cần đừng sợ — Phong cất giọng điềm tĩnh, ngẩng đầu nhìn thẳng vào ông Kế. Bác Kế này, nếu đây thực sự là 'Mộ Thủy' trấn yếm ma quỷ của dòng họ Nguyễn Kế như lời bác và cụ Bát đồn đại, thì tại sao bên trong lại chứa đồ đạc cá nhân của Công ty Đường sắt Pháp? Bác sợ dân làng biết sự thật, hay sợ bí mật suốt gần trăm năm qua của nhánh họ nhà bác bị bóc trần?
Mày... mày ăn nói tào lao! Ông Kế gằn giọng, bước dằn từng bước lại gần tấm chiếu. Mày thì biết cái gì về lịch sử cái làng này? Một đứa làm nghề kim hoàn ở thành phố như mày thì biết cái gì!
Cháu đúng là không sống ở đây, nhưng cháu biết đọc tài liệu và biết nhìn kỹ thuật — Phong lạnh lùng đáp.
Anh dùng chiếc đục nhỏ lách nhẹ vào khe khóa đồng của chiếc rương da. Một tiếng cạch khô khốc vang lên. Lẫy khóa gỉ sét nảy ra.
Thấy Phong chuẩn bị mở rương, một gã thanh niên đi cùng ông Kế định lao vào giật lấy, nhưng ông Kế vội giơ tay ra hiệu dừng lại. Lão biết, nếu dùng vũ lực lúc này ở ngay trong sân nhà người khác, tiếng động sẽ kéo cả làng đến, và khi đó bí mật sẽ không thể nào bọc kín được nữa.
Phong bật nắp chiếc rương da.
Bên trong rương là hai xấp tài liệu bằng giấy da dày, mép giấy đã ố vàng theo thời gian nhưng chữ mực viết tay bằng tiếng Pháp cùng các bản vẽ kỹ thuật vẫn còn rõ mùng một. Cùng với đó là một cuốn sổ nhật ký bìa bọc vải dù màu xanh đen và một túi vải nhỏ buộc dây thừng.
Phong mở túi vải ra trước. Những tiếng lạch cạch trong trẻo vang lên. Bên trong là ba con dấu bằng đồng thau nặng trịch — một con dấu của Tòa sứ Pháp tại Thanh Hóa, một con dấu của Công ty Đường sắt, và con dấu cá nhân mang tên Bá hộ Nguyễn Kế Văn.
Phong lật tiếp cuốn nhật ký bìa vải dù. Dưới ánh đèn sáng quắc, từng dòng chữ bằng tiếng Pháp uốn lượn hiện ra. Phong từng có ba năm học phục chế đồ cổ tại Lyon nên việc đọc hiểu các văn bản Pháp cổ không phải là rào cản đối với anh. Anh lướt nhanh qua những trang giấy, đọc to từng đoạn bằng tiếng Việt cho tất cả những người có mặt cùng nghe:
"Ngày 14 tháng 11 năm 1898. Chúng tôi đã hoàn thành bản khảo sát địa chất đoạn đường sắt chạy qua thung lũng sông Mã. Cụ Bá hộ Nguyễn Kế Văn đã bàn giao toàn bộ số vàng đền bù giải phóng mặt bằng của Tòa sứ cho dân làng Cổ Truông. Tuy nhiên, người cháu họ của cụ — Nguyễn Kế Tĩnh đã âm mưu làm giả chứng từ để chiếm đoạt số vàng này..."
Phong dừng lại một nhịp, ngẩng lên nhìn ông Kế. Sắc mặt ông Kế lúc này đã cắt không còn một giọt máu, hai chân lão run rẩy đến mức phải tì hẳn người vào chiếc gậy gỗ.
Phong đọc tiếp:
"Cụ Bá hộ quyết định cất giữ toàn bộ bản đồ ranh giới đất đai, chứng từ đền bù và giấy tờ chuyển nhượng mỏ đá vào chiếc rương bọc da này, nhờ tôi thiết kế cỗ hòm đá chốt chì để chôn giấu dưới lòng sông Mã. Đây là tài sản chung của dân làng Cổ Truông, chỉ được mở ra khi có sự chứng kiến của Tòa sứ hoặc chính quyền minh bạch..."
Đủ rồi! Đừng đọc nữa! — Ông Kế bỗng thốt lên một tiếng gầm cay đắng, ngã quỵ xuống tấm chiếu gạch. Chiếc gậy gỗ trên tay lão văng ra xa, lăn lóc bên chân cỗ hòm đá.
Ba gã thanh niên đi theo ngơ ngác nhìn vị trưởng tộc. Bác Cần thì đứng chết trân, rụng rời tay chân vì sự thật lịch sử vừa được phơi bày.
Hóa ra... vụ hỏa hoạn năm 1932 không phải do tai nạn — Phong khép cuốn nhật ký lại, ánh mắt tràn ngập sự phẫn nộ cùng xót xa. Ông Nguyễn Kế Tĩnh, ông nội của bác vì muốn chiếm đoạt toàn bộ số đất đai và giấy tờ mỏ đá đã châm lửa đốt trang xá, sát hại gia đình cụ Bá hộ. Nhưng ông ta không ngờ rằng, trước khi chết, cụ Bá hộ đã kịp phối hợp với vị kỹ sư người Pháp thả cỗ hòm đá chứa toàn bộ chứng từ thật xuống lòng sông Mã!
Ông nội tao... không có cách nào khác! — Ông Kế ngước đôi mắt đỏ ngầu lên nhìn Phong, giọng nói méo mó vì uất hận và tủi hổ. Nếu không có số giấy tờ đó, nhánh họ nhà tao làm sao sống nổi qua thời buổi loạn lạc? Mấy chục năm nay, dòng họ tao đồn đại về 'Mộ Thủy' trấn yếm ma quỷ là để không gã thợ lặn hay người dân nào dám bén mảng đến rương đá dưới đáy sông! Cứ mỗi lần bão lớn lũ về, tao lại nơm nớp lo sợ cỗ hòm đá bị cuốn trôi đi mất... Không ngờ... không ngờ hôm nay nó lại trồi lên ngay bến sông này!
Phong thở dài một hơi sâu, nhìn tập tài liệu quý giá trong tay rồi nhìn cỗ hòm đá xám xịt đã nằm dưới lòng sông lạnh lẽo gần một thế kỷ.
Sự thật, dù có bị chôn sâu dưới hàng thước bùn đất hay bị bọc kín bằng những lời đồn đại ma quái đến đâu, thì theo quy luật của thời gian và công lý, cũng sẽ có ngày trồi lên mặt nước.
Bác Kế này — Phong cất giọng trầm buồn nhưng kiên quyết. Sáng mai, cháu sẽ mang toàn bộ tập chứng từ này cùng chiếc rương da đến nộp cho Bảo tàng Tỉnh và Ủy ban Nhân dân huyện. Đất đai mỏ đá ngày xưa giờ đã thuộc về nhà nước và cộng đồng, nhưng sự thật lịch sử của làng Cổ Truông và sự oan khuất của gia đình cụ Bá hộ cần phải được trả lại sự trong sạch.
Ông Kế gục đầu xuống hai gối, không thốt thêm được một lời nào. Ba gã thanh niên lặng lẽ tiến lại dìu ông lão đứng dậy, lầm lũi bước ra khỏi cổng nhà trong bóng đêm mịt mùng.
Sáng hôm sau, bầu trời Cổ Truông sau bão trong vút và cao rộng. Nắng vàng ươm trải dài trên triền đê xanh mướt, chiếu xuống dòng sông Mã đang chậm rãi trôi, trả lại vẻ hiền hòa vốn có.
Chiếc xe của Bảo tàng Tỉnh lăn bánh vào khoảng sân gạch nhà ông nội Phong. Cỗ hòm đá cùng chiếc rương da cá sấu được các chuyên gia cẩn thận niêm phong và cẩu lên xe trong sự chứng kiến của đông đảo dân làng. Không còn ai nhắc đến hai chữ "Mộ Thủy" hay sự sợ hãi ma quỷ nữa. Họ đứng vây quanh, xì xào bàn tán về một trang sử đã bị lãng quên của quê hương vừa được tháo gỡ.
Phong đứng bên hiên nhà, vẫy tay chào đoàn xe lăn bánh rời đi. Anh hít một hơi thật sâu bầu không khí trong lành của vùng quê thanh bình, cảm thấy lồng ngực nhẹ nhõm đến kỳ lạ. Cơn bão đã qua, dòng sông đã gột rửa sạch sẽ những bí mật hèn nhát của quá khứ, nhường chỗ cho sự bình yên thực sự trở về với thung lũng Cổ Truông.