
Tác giả: Hoàng Khánh Duy
Ba năm sau, tôi mới quay trở lại làng An - một ngôi làng nhỏ xinh đẹp ven biển, được bờ sóng ấp iu, vỗ về.
Đó là cuộc trở về không nằm trong dự tính. Trên chuyến hành trình dài hơn 500 cây số bằng tàu hỏa, tôi quyết định dừng chân ở một ga xép nhỏ nằm giữa cánh đồng. Ga An. Tàu đỗ, ga xép vắng lặng như tờ, chỉ có người gác ghi dập vội điếu thuốc đang cháy dở, đứng dậy cầm cờ phẩy phẩy khi đoàn tàu dừng lại.
Tôi bước xuống khỏi toa tàu. Gió thổi phần phật làm liêu xiêu dáng người đứng ngơ ngẩn trên sân ga. Xung quanh nhà ga là những dãy đồng mênh mông, lúa đương độ chuyển từ sắc xanh sang sắc vàng óng ả. Tôi hít một hơi thật sâu, thấy người mình nhẹ hẫng. Không gian này, đối với tôi, không có gì xa lạ. Bởi lẽ ba năm trước tôi đã từng gắn bó với nơi này, chiều chiều đạp xe ra ga chỉ để ngắm nhìn những đoàn tàu đi về trong thanh âm của gió. Khoảng thời gian ấy tuy không quá lâu, nhưng cũng đủ để nơi này gieo vào trong tôi bao hồi ức mà có lẽ suốt đời tôi chẳng thể nào quên được.
- Cô gì ơi, về đâu, tui chở cho. Lấy rẻ!
Bác xe ôm vẫy tay tôi đáp khẽ:
- Cảm ơn bác. Cháu cuốc bộ, đường không xa.
Bác nhoẻn miệng cười. Trông bác quen thương lắm, nụ cười hiền như nụ cười ông nội tôi lúc còn sống.
Từ sân ga, con đường mòn quanh co hằn in vết bánh xe bò to tướng vẫn còn đọng nước trong đó sau đám mưa từ hôm qua, hôm kia. Con đường duy nhất dẫn về làng An nằm nhoài ra phía biển. Từ đây, tôi đã nghe tiếng sóng rì rào ngoài trùng khơi xa tít và âm vọng của con sóng dội vào ghềnh đá. Mùi biển mặn hòa cùng mùi khăm khẳm từ mớ lưới vó xếp chồng hoặc được giăng ra phơi sau chuyến cá về từ ngoài khơi hòa lẫn vào nhau, thoang thoảng trong không gian. Mỗi lần tôi về đến đầu làng An, mùi hương ấy lại nồng nàn như một lời chào, nó khiến tôi bước chân thật nhanh cho đến khi bờ cát trắng chạy dài, biển xanh xôn xao và những chiếc thuyền thúng màu xanh biển nằm nghiêng nghiêng trên cát hiện ra trước mắt tôi.
Làng An của tôi đây rồi! Tôi nói trong tâm tưởng. Niềm vui bất chợt dâng lên như đứa con xa quê lâu ngày, trở về để nhận diện cội nguồn. Từ năm tháng ấy, tôi đã nghĩ rằng làng An chính là quê hương thứ 2 của tôi.
*
Tôi vẫn không hiểu vì sao lúc ấy tôi có đủ mạnh mẽ để lên tàu, đi về một sân ga xa xôi trên hành trình dọc dài đất nước.
Đêm quê bình yên, chỉ có lòng tôi đầy bão động. Mẹ ngồi bên tôi một lúc rồi sụt sùi. Cũng lâu rồi tôi mới thấy mẹ khóc:
- San, đừng đi!
Tôi nắm bàn tay mẹ, nâng niu. Tay mẹ mềm. Đôi tay đã dắt tôi đi qua bao tháng năm cuộc đời, chưa bao giờ bỏ rơi hay để tôi thiệt thòi. Bằng sức lực và sự cố gắng, mẹ luôn mang đến cảm giác yên bình, ấm áp và hạnh phúc nhất cho tôi.
Tôi thì thào bên tai mẹ, cốt là để mẹ tôi dịu lòng, dù lòng tôi đầy bão gió:
- Thôi mẹ, chuyện đã lỡ rồi, San không trách mẹ đâu.
Nhưng mẹ vẫn không sao vơi được niềm đau. Bao ngày trôi qua, chưa bao giờ tôi thấy mẹ ngủ một giấc trọn vẹn. Tôi cũng vậy, cứ nửa đêm tôi lại bật dậy, bởi trong cơn mơ ban nãy, tôi thấy gương mặt của gã đàn ông mất nhân tính kề sát mặt tôi. Khuôn mặt với nụ cười nham hiểm và đôi mắt như nhìn sâu xoáy vào khe ngực, vào cơ thể của tôi. Tôi thét gào trong giấc mơ. Tay tôi bấu víu vào những gì có thể, chiếc gối ôm, con thú nhồi bông cũng bị tôi cào rách. Tôi dùng dằng. Tôi đang cố thoát ra khỏi vòng tay hộ pháp của gã đàn ông mà tôi gọi là cha. Gã đàn ông đã đến bên đời mẹ tôi sau khi cuộc hôn nhân của mẹ và ba tôi đổ vỡ vì những điều không mong muốn.
Mẹ tôi không biết chuyện đó. Hắn không cho tôi nói nửa lời. Tôi sợ hắn làm hại mẹ tôi. Tôi cứ lặng im, một mình gặm nhấm những cơn đau. Mãi cho đến khi mẹ tôi bắt gặp tôi giãy giụa trong tuyệt vọng, mẹ tôi thét lên, ném cái bình hoa vào đầu gã đàn ông mặt người dạ thú. Máu me ròng ròng. Tôi thoát khỏi vòng tay hắn. Mẹ nắm tay tôi chạy ra khỏi căn nhà u ám và đầy man rợ đó. Cuộc vui của hắn kết thúc bằng tiếng còi xe cảnh sát rú vang cả khu phố xập xệ.
Giấc mơ của tôi từ ấy không yên lành…
*
Khuôn mặt ấy, hình hài ấy, đôi tay hộ pháp ấy, nụ cười nham nhở và ranh mãnh ấy cứ bám riết lấy tôi…
Mẹ đưa tôi đi khám, từ tâm lý đến sinh lý, mọi thứ. Bác sĩ nào cũng bảo tôi về nghỉ ngơi, đọc sách hoặc đi đâu đó cho khuây khỏa. Tôi thất thểu ôm mẹ thật chặt. Một ngày tôi nói với mẹ tôi muốn đi xa, chỉ còn cách đi thì những niềm đau mới được chữa lành. Ở lại phố này, trong bầu không khí ngột ngạt này, tôi thấy tim mình như bị bóp nghẹt. Mẹ không ngăn dù từ trước đến giờ tôi chưa từng rời xa mẹ, nhưng mẹ muốn đi cùng với tôi, đi đến chân trời góc bể cũng được.
- Con muốn đi một mình! Mẹ cứ yên tâm, con sẽ khỏe, sẽ ổn và sớm quay về với mẹ. Con thương mẹ lắm!
Mẹ không đòi theo nữa, nhưng mẹ tôi buồn lắm. Chiều tôi ngồi cho mẹ tết tóc, hệt như những ngày tôi còn nhỏ. Tay mẹ lướt trên sóng tóc của tôi. Khoảnh khắc ấy, tôi chỉ ước mơ rằng mình bé lại, chạy nhảy ở vuông sân trước nhà, nép vào bóng cây ngọc lan để hương hoa ngọc lan tràn vào mũi tôi thơm nức ngát. Tuổi thơ là thời điểm yên bình nhất của tôi. Năm tháng ấy, tôi có ba, có mẹ, có tất cả. Một vùng trời yên bình và an toàn. Tôi được chở che, được vỗ về, được lớn lên bằng suối nguồn của yêu thương không bao giờ vơi cạn.
*
Ở làng An, tôi hòa vào cuộc sống của những người dân chài, sáng sáng lại có ai đó réo tôi: “San ơi, ra bến xem người ta lên cá”. Là những con thuyền trở về sau một đêm lênh đênh trên biển khơi; là màu cá rực rỡ dưới ánh mặt trời; là mặt biển xanh; là chiếc thuyền gỗ nâu trầm; là khuôn mặt rám nắng của những người dân chài trên biển…
Ở làng An, buồn thì tôi ra ngắm biển, nằm dài trên bờ cát để nước biển khỏa lấy thân thể mình, rửa trôi những nỗi niềm riêng mang. Tôi đạp xe ra sân ga nhìn những chuyến tàu đi về, gửi nỗi nhớ thương theo chuyến tàu đi vào phương Nam, đỗ ở ga cuối là thành phố yêu dấu của tôi, thành phố của nỗi buồn và của những niềm vui, của nắng và mưa, của mẹ vẫn đêm ngày chờ đợi đứa con gái nhỏ đang phiêu diêu nơi xứ biển.
Biển đã làm sống dậy trái tim tôi, làm lành những vết thương mà có lúc tôi nghĩ rằng nó sẽ không bao giờ lành lặn được.
Biển rì rào. Tôi nhìn ra xa xăm trùng khơi. Lá cờ trên mũi thuyền chài phấp phới trong nắng gió…