
Hà Nội những ngày thu muộn chìm trong một lớp sương mù ẩm ướt. Căn xưởng phục chế đĩa than rộng chưa đầy hai mươi mét vuông của Nam nằm lọt thóm ở tầng hai một ngôi nhà cổ trên phố Nguyễn Quang Bích. Không gian ở đây lúc nào cũng nồng nặc mùi dung dịch vệ sinh đĩa, mùi nhựa vinyl cũ và mùi cà phê đen đặc.
Nam năm nay ba mươi hai tuổi, đeo kính râm nhẹ, hai tay đeo găng vải mịn. Với anh, đĩa than không đơn thuần là vật dụng nghe nhạc, mà là một lát cắt thời gian được đóng đông lại bằng những rãnh sóng siêu nhỏ.
Đúng bốn giờ chiều, tiếng chuông gió bằng đồng treo ngoài cửa phát ra tiếng kêu keng keng lanh lảnh. Một người đàn ông cao gầy, mặc áo may-ô khoác jacket da cũ kỹ, đầu đội mũ cối sụp sâu xuống tận mắt bước vào. Khách không nói một lời, lặng lẽ đặt lên bàn làm việc của Nam một chiếc bọc vuông vắn bọc bằng da trâu mục nát, góc bìa đã sần sùi và nồng nặc mùi ẩm mốc của lòng đất.
— Nhờ chú làm sạch và trích xuất lại thứ bên trong. Chi phí không thành vấn đề — Giọng người đàn ông khàn đục như tiếng sỏi cọ vào đáy thùng sắt.
Nam chưa kịp hỏi tên tuổi hay địa chỉ liên lạc thì người đàn ông đã quay lưng, rảo bước nhanh xuống cầu thang gỗ, biến mất vào dòng người hối hả trên phố cổ.
Nam tò mò gỡ từng lớp dây dù quấn quanh bọc da. Bên trong là một chiếc đĩa than 12-inch màu đen tuyền, dầy dặn bất thường. Nhãn giấy tròn ở trung tâm đĩa đã bị ai đó cố tình dùng dao cạo sạch, chỉ còn lại những vệt xước trắng nham nhở. Tuy nhiên, bằng mắt nghề tinh tường, Nam nhận ra nhựa của chiếc đĩa này là loại nhựa Shellac hỗn hợp pha thủy tinh mịn — công nghệ dập đĩa đắt đỏ chỉ được một số phòng thu âm tư nhân thử nghiệm tại Hà Nội vào đầu thập niên 90.
Anh cẩn thận mang chiếc đĩa vào phòng rửa siêu âm, gột sạch lớp bụi mịn và nấm mốc đóng tảng trong các rãnh đĩa. Sau năm mươi phút xử lý, bề mặt chiếc đĩa lộ ra những đường rãnh siêu nhỏ, đen bóng dưới ánh đèn soi kỹ thuật.
Nam đặt đĩa lên mâm quay Technics SL-1200, điều chỉnh cần kim cắm đúng trọng lượng 1.5 gram, rồi hạ cần.
Sột soạt... sột soạt...
Thùng loa JBL cổ vang lên những tiếng rác tơ đặc trưng của đĩa vinyl. Nam tựa lưng vào ghế, chờ đợi một bản nhạc bolero hay ca khúc nhạc tiền chiến nào đó vang lên.
Thế nhưng, từ trong màng loa không hề có tiếng đàn hay tiếng hát.
Rút... xè... rít...
Đó là một chuỗi dải âm tần vô cùng kỳ quái. Những tiếng hú chói tai đan xen với tiếng nhịp đập đứt quãng: bịch... bịch... bịch..., theo sau là tiếng kim loại cọ xát vào nền bê tông khô khốc. Thứ âm thanh đó vô nhip, vô điệu, nhưng lại sở hữu một cấu trúc tần số biến đổi vô cùng chặt chẽ và lặp đi lặp lại sau mỗi vòng quay ba mươi ba vòng một phút.
"Không phải nhạc. Đây là dải tín hiệu mã hóa!" — Nam lẩm nhẩm.
Anh lập tức nối đường xuất âm thanh từ mâm đĩa than sang chiếc máy tính trạm chuyên dụng dùng cho việc lọc nhiễu và phục chế âm thanh kỹ thuật số. Nam bật phần mềm phân tích phổ âm (Spectrogram Analyzer) — công cụ cho phép biến dải tần số sóng âm (Audio Spectrum) thành hình ảnh thị giác theo trục thời gian và tần số (Hz).
Màn hình máy tính bắt đầu chạy dải sóng màu đỏ và vàng tươi. Nam chọn chế độ hiển thị phổ mật độ cao (High-Density Spectrogram Plot).
Ngay khi con trỏ âm thanh quét qua phút thứ nhất của chiếc đĩa, Nam sững người. Hai mắt anh trợn ngược đằng sau lớp kính.
Trên biểu đồ phổ âm thanh, các dải tần số không phân bổ ngẫu nhiên như tiếng ồn hay nhạc cụ thông thường. Những vệt sóng tần số cao từ 8kHz đến 15kHz liên kết lại với nhau một cách kỷ luật kinh ngạc, tựa như những nét bút bằng ánh sáng vẽ trực tiếp lên màn hình đen tuyền!
Người kỹ sư thu âm chiếc đĩa này vào năm xưa đã sử dụng thuật toán điều chế tần số biên độ (Sound-to-Image Frequency Modulation) để khắc một bức ảnh đồ họa vào trong sóng âm của rãnh đĩa than!
Nam nín thở, nhanh tay điều chỉnh độ phân giải của phổ âm thanh lên mức tối đa.
Bức ảnh từ quá khứ ba mươi năm trước từ từ hiện ra rõ nét từng chi tiết trên màn hình máy tính:
Đó là khung cảnh một căn phòng kín với vách tường dán mút cách âm hình quả trứng. Trên nền nhà gạch bông hoa văn kiểu Pháp cũ, một người phụ nữ mặc áo dài gấm đang nằm gục xuống. Khuôn mặt người phụ nữ quay về phía ống kính — đôi mắt mở to u uất, khóe miệng rỉ một vệt đen. Và ngay bên cạnh góc bàn thu âm, một bàn tay đàn ông đeo chiếc nhẫn vàng có mặt đá sapphire hình thoi đang nắm chặt một sợi dây cáp micro.
Góc dưới cùng của bức ảnh sóng âm hiện lên một dòng chữ khắc bằng tần số nét mảnh:
THANH TRÚC — PHÒNG THU ÂM BẠCH DƯƠNG — 14/10/1993.
Nam cảm thấy toàn bộ máu trong cơ thể như dồn hết lên não. Sống lưng anh lạnh ngắt.
Thanh Trúc! Nữ ca sĩ phòng trà vang danh một thời với giọng hát ma mị tại Hà Nội đầu những năm 90. Mùa thu năm 1993, báo chí và dư luận cả nước từng xôn xao trước sự mất tích đột ngột của cô. Cảnh sát thời đó điều tra suốt nhiều năm nhưng không tìm thấy thi thể hay bất kỳ dấu vết nào, cuối cùng vụ án đành phải khép lại như một hồ sơ mất tích không lời đáp.
Hóa ra, Thanh Trúc không hề bỏ trốn hay vượt biên như những lời đồn đại. Cô đã bị sát hại ngay tại phòng thu âm! Và người kỹ sư âm thanh có mặt tại hiện trường — hoặc chính là nạn nhân trước khi trút hơi thở cuối cùng đã dùng chính cỗ máy khắc đĩa để biến cỗ tử thi và hiện trường vụ án thành một dải tần số bí mật, gài giấu vào lòng chiếc đĩa than này!
Rắc!
Một tiếng động khẽ vang lên ngoài ban công tầng hai.
Nam giật phắt mình, quay đầu lại. Qua ô cửa kính dán mờ vì hơi sương, anh nhìn thấy một cái bóng đen cao gầy đang lặng lẽ đứng nhìn chằm chằm vào trong xưởng qua kẽ hở ban công. Dưới ánh đèn đường vàng vọt hắt lên, trên ngón tay đeo găng cắt gót của cái bóng đen đó... lóe lên ánh sáng xanh xám của một chiếc nhẫn vàng có mặt đá sapphire hình thoi.