
Con sông Đáy đêm mùa thu chảy lặng lẽ như một vệt mực đen khổng lồ trườn qua làng Mộc. Không khí ven sông quánh lại bởi hơi nước ẩm mốc, mùi phù sa nồng nặc hòa lẫn với hương trầm cháy dở từ các miếu thờ thổ địa ven bờ.
An ngồi trên chiếc ghế mây sần sùi ở hiên nhà gianh của Trưởng thôn. Anh đưa tay đỡ lấy chén trà gừng nóng hổi, cố xua đi cái lạnh se sắt đang len lỏi qua lớp áo mỏng. An là thạc sĩ nghiên cứu văn hóa dân gian. Anh về làng Mộc lần này để thu thập tư liệu về nghệ thuật nhuộm vải bằng vỏ cây tía và máu gấc - một kỹ thuật nhuộm lụa đỏ thủ công từng vô cùng nổi tiếng nhưng đã bị thất truyền hoàn toàn từ hơn tám mươi năm trước.
"Cháu đừng tìm hiểu sâu làm gì nữa," ông Cần-trưởng thôn, một người đàn ông ngoài sáu mươi với làn da chìm đắm nếp nhăn và đôi mắt sâu hoắm thở dài một tiếng thườn thượt, thả luồng thuốc lào phả ra không trung. "Cái màu đỏ đó... nó không phải đỏ gấc, cũng chẳng phải đỏ gạch đâu. Người làng này gọi đó là Màu Huyết Dụ. Và cái màu đó... nó ăn máu người."
An mỉm cười nhẹ, cho rằng đó chỉ là những lời đồn thổi dân gian mang tính huyễn hoặc nhằm giữ bí quyết nghề nghiệp.
ĐÙNG... ĐÙNG... ĐÙNG...
Tiếng trống đồng giã liên hồi đột ngột vang lên từ phía bến sông cuối làng. Âm thanh cồng kềnh, u uất xé tan sự tĩnh mịch của đêm muộn. Tiếp sau đó là tiếng khóc hờ chói tai của phụ nữ và tiếng gậy tre đập sàn cách... cách... dồn dập.
Ông Cần nheo mắt, nét mặt lập tức biến sắc. Chiếc điếu cày trên tay ông run lên bần bật.
"Lại... lại có đứa nữa rồi!" Ông Cần lẩm bẩm, vội vã đứng dậy, vơ lấy chiếc đèn bão treo trên cột nhà. "Cháu ngồi yên trong nhà! Đêm nay tuyệt đối không được bước ra ngoài bến sông!"
Nhưng sự tò mò của một người nghiên cứu không cho phép An ngồi yên. Khi bóng dáng ông Cần vừa khuất sau hàng dâm bụt, An liền bật chiếc đèn pin nhỏ, lặng lẽ bám theo phía sau.
Bến sông Mộc lúc này rực lên ánh đỏ lập lòe từ hàng chục ngọn đuốc dầu trấu. Hơn chục người đàn ông vạm vỡ, già trẻ trong làng đang quây thành một vòng tròn rộng quanh chiếc bàn tế bằng gỗ gụ đặt ngay sát mép nước.
Giữa bàn tế là thi thể của một cô gái trẻ khoảng mười tám tuổi, thân hình gầy guộc, mặc bộ quần áo bà ba màu xám ướt sũng. Da thịt cô gái đã chuyển sang màu tím tái, hai mắt trợn ngược trố ra nhìn lên bầu trời đêm tĩnh mịch, khuôn mặt biến dạng vì ngạt thở.
Điều khiến toàn bộ sống lưng An lạnh ngắt không phải là cái xác chìm dưới nước, mà là thứ đang quấn chặt trên cổ cô gái.
Đó là một chiếc áo yếm lụa màu đỏ huyết dụ- loại màu đỏ thẫm đến mức gần như đen sẫm dưới ánh đuốc. Chiếc yếm lụa mềm mại được siết chặt tới ba vòng quanh cổ nạn nhân, thắt lại bằng một nút thắt hình con rết kỳ quái. Kỳ lạ thay, dù toàn bộ quần áo của cô gái đều ướt sũng nước sông, nhưng chiếc áo yếm lụa đỏ đó lại khô nguyên, không bám một giọt nước, và tỏa ra một mùi hương cực kỳ nồng nặc: mùi dầu rái trộn lẫn với mùi máu tươi tanh nồng.
Ở đầu bàn tế, một thầy cúng mặc áo dài đen, đầu quấn khăn sọc đỏ đang gõ liên hồi vào chiếc mỏ gỗ. Lão vừa gõ vừa lẩm bẩm những câu chú bằng tiếng Nôm cổ:
"Hỡi hồn trinh nữ vất vưởng đáy sông... Yếm đỏ buộc cổ, nợ máu trả máu... Oan có đầu, nợ có chủ... Mau buông tha cho con cháu dòng họ Nguyễn Đăng..."
Thầy cúng vơ lấy một nắm muối trộn gạo nếp, vãi mạnh vào mặt cái xác.
XÈO!
Một âm thanh rùng rợn vang lên như thể muối gặp phải chảo dầu nóng. Từ trên chiếc áo yếm đỏ thẫm, những vệt bọt màu đỏ tươi như máu bắt đầu sủi lên, ứa ra từ từng thớ vải lụa, chảy ròng ròng xuống mặt bàn gỗ gụ.
"Thánh thần ơi! Nó lại đòi máu!" Một người đàn ông trong làng gào lên hoảng loạn, ngã ngửa ra sau.
Cả bến sông náo loạn. Những tiếng la hét, tiếng bước chân chạy hỗn loạn làm chao đảo những ngọn đuốc. Ông Cần vội vã tiến lại, cùng thầy cúng dùng một tấm chiếu hoa phủ kín thi thể cô gái, rồi nhanh chóng sai khiêng cái xác đi về phía ngôi nhà thờ họ Nguyễn Đăng ở đầu làng.
An đứng nấp sau gốc cây đa cổ thụ, tim đập liên hồi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Khi đoàn người khiêng chiếc bàn tế đi xa, bến sông chỉ còn lại sự tĩnh mịch đè nén.
Nước sông Đáy vỗ nhẹ vào bờ đá rì rào... rì rào...
An tiến lại gần vị trí đặt bàn tế lúc nãy. Dưới ánh đèn pin mờ nhạt, trên mặt đất bùn ướt nhão vẫn còn đọng lại một vệt dung dịch màu đỏ sẫm chảy ra từ chiếc áo yếm. An quỳ xuống, rút một chiếc que nhỏ quết nhẹ vào vệt dung dịch.
Một mùi hương xộc thẳng vào mũi anh—không phải mùi phẩm nhuộm hóa học, cũng không phải mùi gấc chín. Đó là mùi thơm ngạt ngào của hoa mẫu đơn rừng, hòa quyện với mùi máu người tươi và mùi vải ủ ngâm trong hũ sành lâu năm.
Xoạt... xoạt...
Một tiếng động khẽ khàng vang lên từ dưới rặng tre gai ven bờ sông.
An giật mình quay đèn pin rọi về phía tiếng động. Luồng ánh sáng trắng lướt qua những gốc tre mọc chằng chịt, rồi dừng lại ở sát mép nước.
Trong quầng sáng mờ tối, giữa lòng sông đen thẫm, một bóng người đàn bà đang lơ lửng ngâm mình dưới nước. Người đó mặc một chiếc áo yếm màu đỏ huyết dụ rực rỡ, mái tóc đen dài rủ xuống che kín toàn bộ khuôn mặt.
Tóc của người đàn bà không trôi theo dòng nước, mà đang chầm chậm vươn dài ra, trườn trên mặt bùn như những con rắn đen nhỏ, hướng thẳng về phía bàn chân của An.
Và từ trong lòng sông tĩnh mịch, một tiếng thầm thì khàn đục, vang lên ngay sát màng nhĩ của An, như thể người đó đang ghé miệng sát tai anh mà thì thầm:
"Trả... yếm... cho... tôi..."