Sau cuộc đụng độ rùng rợn với con quỷ khuyển đội nón mê ở bờ tường đá, Trần Phong không dám dừng lại một giây nào. Hắn biết âm khí của Làng Ngang đã biến chuyển từ "Tụ Âm Thất" sang "Huyết Sát Trận".
Con đường dẫn vào trung tâm làng mỗi lúc một âm u, sương muối phủ dày đến mức dù cầm chiếc đèn bão trên tay, hắn cũng chỉ nhìn thấy mờ mờ trong phạm vi ba bước chân. Tiếng gió rít qua rặng tre ngà ven đường nghe như tiếng hàng ngàn vong hồn đang thì thầm oán hận, thúc giục hắn bước nhanh hơn vào chỗ chết.
Đi được khoảng hai dặm, một công trình kiến trúc khổng lồ đột ngột hiện ra xuyên qua màn sương dày. Đó là biệt phủ của gia tộc họ Cao — dòng họ tài phiệt khét tiếng nhất vùng bãi bồi này. Ngôi biệt phủ được xây dựng theo kiểu chữ Đinh kiến trúc phong kiến cổ, tường cao hào sâu, bao quanh bởi những hàng cọc gỗ đóng chặt xuống lòng kênh rạch để ngăn kẻ trộm.
Kỳ lạ là, toàn bộ cổng chính của biệt phủ không hề treo đèn lồng đỏ như các nhà giàu khác, mà lại treo hai dải lụa trắng dài thườn thượt, bay phần phật trong gió đêm giống như hai dải khăn tang khổng lồ khóc thương cho một đại tang sắp sửa ập đến.
"Cạch... Cạch..."
Tiếng gõ cửa bằng đồng hình đầu rồng nện vào thớ gỗ lim dày của cổng chính vang lên khô khốc. Trần Phong đứng đợi sẵn, tay siết chặt chiếc túi chàm đựng pháp khí. Chỉ vài mươi giây sau, cánh cổng nặng nề từ từ hé mở, một người đàn ông trung niên mặc áo gấm đen, gương mặt gầy rộc, đôi mắt sâu hoắm đầy vẻ mệt mỏi bước ra.
Đó chính là Cao Vạn — trưởng tộc đương nhiệm của nhà họ Cao, người đã gửi thư khẩn cầu sư phụ của Trần Phong đến đây cứu mạng từ một tháng trước.
"Cậu... cậu là đệ tử của thầy Đại sao?" Cao Vạn nhìn thấy chiếc túi chàm và chiếc nhẫn bạc hình hổ phù trên tay Trần Phong thì như vớ được cọc chèo giữa dòng nước lũ, giọng lão run rẩy, lập tức kéo hắn vào trong rồi chốt chặt ba tầng khóa sắt.
"Sư phụ tôi đã quy tiên hai tuần trước vì kiệt sức sau khi trấn áp một huyết huyệt ở phương Nam." Trần Phong lạnh lùng đáp, ánh mắt đảo quanh sảnh chính của biệt phủ. "Tôi đi thay ông ấy để hoàn thành lời hứa với Cao gia. Nhưng xem ra, đại họa của nhà ông đã đến sớm hơn dự tính.
Âm khí ở đây đã ngấm vào long mạch, người trong nhà chắc chắn đã có kẻ hóa quỷ."
Cao Vạn nghe đến đó thì hai chân bủn bủn rủn, suýt chút nữa ngã quỵ xuống sàn nhà lát gạch tàu đỏ thẫm. Lão dẫn Trần Phong đi sâu vào từ đường của dòng họ, nơi đặt hàng chục bài vị bằng gỗ thị đen bóng của các bậc tổ tiên. Thế nhưng, điều kinh dị nhất không nằm ở các bài vị, mà là ở bức tường chính giữa từ đường.
Trên đó treo một bộ da thú khổng lồ, đen bóng, có đến bảy chiếc sừng nhọn hoắt mọc lởm chởm quanh phần đầu sọ khô. Bộ da thú ấy quỷ dị thay, dù đã được thuộc da từ hàng chục năm trước, nhưng từ các kẽ chân lông và đầu sừng vẫn đang rỉ ra những giọt chất lỏng màu đỏ thẫm, đặc quánh như máu tươi, nhỏ xuống chiếc chậu đồng đặt phía dưới: tòng, tòng.
"Đây... đây là bộ da của con Ngưu thần bảy sừng mà tổ tiên chúng tôi thờ phụng..." Cao Vạn vừa nhìn bộ da vừa run cầm cập, hai tay chắp lại vái lấy vái để. "Ba tháng trước, không biết vì lý do gì, bộ da này bắt đầu rỉ máu. Cứ mỗi lần máu đầy chậu, trong nhà lại có một người chết. Đêm nay là đêm trăng khuyết, máu đã mấp mé miệng chậu rồi cậu thầy ơi! Xin cậu cứu lấy dòng họ nhà tôi!"
Trần Phong tiến lại gần, dùng ngón tay quệt một chút chất lỏng màu đỏ trên đầu sừng đưa lên mũi ngửi. Mùi tanh tử khí xộc thẳng vào đại não làm hắn suýt nôn mửa. Đây hoàn toàn không phải máu trâu thông thường, mà là "Oán Huyết" của người chết oan bị phong ấn vào trong cốt tủy con thú.
Hắn quay sang nhìn Cao Vạn, ánh mắt sắc lẹm như muốn nhìn thấu tâm can lão: "Cao trưởng tộc, ông vẫn chưa nói thật. Con trâu bảy sừng này năm xưa là do tổ tiên ông nuôi dưỡng bằng thịt người để cầu vinh hoa phú quý đúng không? Bây giờ tà thần phản phệ, nó đòi lại nợ máu của dòng họ ông!"
Cao Vạn mặt cắt không còn một giọt máu, định lên tiếng chối cãi thì thốt nhiên, từ phía hậu viện của biệt phủ vang lên một tiếng hét thất thanh của người đàn bà, đi kèm với đó là tiếng chó sủa điên cuồng, dồn dập vang lên khắp các ngõ ngách của trang trại.