Dạ Vô Lăng đứng chắp tay sau lưng, ánh mắt anh như hai lưỡi dao rọc giấy lướt qua từng gương mặt của ba nghi phạm đang quỳ trước mặt. Căn phòng lúc này chỉ còn tiếng gió mưa rả rích tạt vào khung cửa sổ gỗ óc chó và tiếng thở dốc đầy căng thẳng của ba con người nằm trong vòng nghi vấn.
"Diệp Cô Thành," Dạ Vô Lăng gọi đích danh vị trà sư mặc áo lụa trắng, "người đầu tiên ta muốn hỏi là ngươi. Trà này do chính tay ngươi pha, ấm trà và chén sứ đều qua tay ngươi. Ngươi giải thích thế nào về việc Thừa tướng đột tử ngay sau khi uống ngụm trà của ngươi?"
Diệp Cô Thành ngẩng đầu lên, gương mặt hắn thanh tú nhưng tái nhợt, đôi mắt không có lấy một chút sợ hãi của một kẻ sắp đối mặt với án tử. Hắn nhàn nhạt đáp: "Dạ bổ đầu, tiểu nhân từ nhỏ đã học trà đạo ở núi Vũ Di, mười năm qua pha trà cho không biết bao nhiêu bậc vương tôn.
Trà Long Tỉnh đêm nay là do ngự tiền ban xuống, nước pha trà là nước suối lấy từ đỉnh Ngọc Tuyền vào rạng đông. Nếu tiểu nhân bỏ độc vào trà, tại sao ấm trà kia vẫn còn nguyên, và tại sao chính tiểu nhân lại không bỏ trốn?"
Dạ Vô Lăng tiến đến bên chiếc bàn đá nơi đặt ấm trà tử sa. Anh nhấc ấm trà lên, rót một ít nước trà còn sót lại vào một chiếc chén sạch khác, rồi lấy ra một con chuột bạch từ trong chiếc lồng nhỏ mang theo bên hông, cho nó uống nước trà. Con chuột bạch uống xong vẫn nhảy nhót hoạt bát, hoàn toàn không có dấu hiệu trúng độc.
"Ấm trà không có độc." Dạ Vô Lăng lẩm bẩm, ánh mắt anh lại chuyển sang chiếc chén sứ thanh hoa đã vỡ nát dưới đất.
Anh nhặt một mảnh vỡ lên, ngửi nhẹ. Mùi Long Tỉnh thanh khiết vẫn thoang thoảng, không hề có mùi vị lạ của độc dược.
Dạ Vô Lăng không nói gì thêm, anh quay sang người thứ hai: Tần Tang nương tử. Cô nương gảy tỳ bà nổi tiếng khắp vùng Tần Hoài bấy giờ đang run rẩy như một chiếc lá trước gió, ngón tay bị đứt dây đàn khi nãy vẫn còn rỉ máu, nhuộm đỏ một mảng tà áo lụa màu hồng nhạt.
"Tần Tang cô nương, tiếng đàn tỳ bà của cô nương quả thực làm say đắm lòng người," Dạ Vô Lăng nhìn vào cây đàn tỳ bà làm bằng gỗ mun khảm xà cừ đặt bên cạnh nàng, "nhưng ta nghe nói cô nương không chỉ giỏi đàn, mà còn có một tuyệt kỹ giang hồ: Mạn Thiên Hoa Vũ, thủ pháp phóng kim châm cực kỳ chuẩn xác.
Khoảng cách từ vị trí ngồi đàn của cô nương đến chiếc ghế bành của Thừa tướng qua tấm rèm tre chỉ chưa đầy bảy thước. Liệu có phải cô nương đã lợi dụng tiếng đàn dồn dập ở khúc cao trào để phóng ra một cây độc châm cực nhỏ, đâm thẳng vào yết hầu của Thừa tướng lúc lão đang ngửa cổ uống trà?"
Tần Tang nghe xong liền hoảng hốt dập đầu, nước mắt dàn dụa trên khuôn mặt trang điểm kiều diễm: "Dạ đại nhân oan uổng cho tiểu nữ! Tiểu nữ chỉ là một nữ tử chốn phong trần, nhờ chút tài mọn kiếm sống qua ngày, làm sao dám sát hại Thừa tướng?
Cây đàn tỳ bà này đại nhân có thể kiểm tra, hoàn toàn không có cơ quan ẩn giấu kim châm nào cả. Hơn nữa, lúc Thừa tướng ngã xuống, tiểu nữ đang gảy bằng cả hai tay, làm sao có thể phân thân phóng châm?"
Dạ Vô Lăng cầm cây đàn tỳ bà lên, gõ nhẹ vào thân đàn để kiểm tra độ rỗng, rồi tỉ mỉ vuốt dọc theo từng phím đàn. Đúng như lời nàng nói, không có cơ quan hay rãnh ngầm để giấu vũ khí bí mật. Tuy nhiên, anh để ý thấy trên mặt đất nơi Tần Tang quỳ có rơi rớt một vài hạt bột mịn màu trắng rất nhỏ, lẫn vào trong các thớ thảm lông cừu.
Cuối cùng, Dạ Vô Lăng đứng trước gã sai vặt câm điếc A Phúc. Gã này từ lúc cấm vệ quân tràn vào chỉ biết thu mình vào một góc, gương mặt bẩn thỉu lộ rõ vẻ đần độn, hai tay không ngừng khua khoắng trong không trung, miệng phát ra những tiếng ú ớ man dại.
"A Phúc, ngươi không thể nói, cũng không thể nghe," Dạ Vô Lăng nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay thô ráp, đầy những vết chai sạn của gã, "ngươi là người cuối cùng chạm vào chén trà trước khi Thừa tướng uống.
Ngươi có móng tay rất dài, và bên trong kẽ móng tay của ngươi vẫn còn đọng lại một chút chất bột màu xám đen. Ngươi lén bỏ độc vào chén trà khi bưng qua tấm rèm tre đúng không?"
A Phúc dường như hiểu được ánh mắt sắc lạnh của Dạ Vô Lăng, gã càng thêm hoảng loạn, liên tục lắc đầu, ra sức chỉ tay về phía chiếc lò than pha trà của Diệp Cô Thành, rồi lại chỉ tay về phía bức tường gỗ phía sau lưng Thẩm Quân Hoài, làm những động tác kỳ quái như thể muốn diễn tả một bóng ma vừa lướt qua.
Dạ Vô Lăng quay lại nhìn thi thể của Thẩm Quân Hoài một lần nữa. Mọi manh mối ban đầu dường như đều đi vào ngõ cụt: ấm trà không có độc, chén trà vỡ không có độc, vũ khí ám khí không tìm thấy.
Ba nghi phạm ai cũng có động cơ hoặc cơ hội, nhưng phương thức hạ độc hoàn toàn là một ẩn số. Vị bổ đầu trẻ tuổi cảm thấy một luồng sương mù dày đặc đang bao tr phủ lấy Thính Vũ Lâu, và thời gian của anh không còn nhiều trước khi trời sáng và vụ án này lọt đến tai Hoàng đế.